8 chiêu tối ưu hóa Windows XP bằng Registry

Tháng Mười Hai 7, 2007 at 9:27 sáng (Phần mềm)

Đây là bài viết thứ 2 của mình tại 2T , nên chưa biết bài này có ” đụng hàng ” của ai không , có gì bỏ quá cho nhé ^^!

Bạn có bao giờ “ứa gan” khi thấy cái hệ điều hành Windows XP thời thượng của mình ngày càng chạy chậm hơn không? Nhiều khi gấp gáp vào làm việc mà nhìn nó đủng đỉnh khởi động, người ta thiếu điều muốn “kêu lính bắt nó cho rồi”.

Thật tình có nhiều cách để giúp cho Windows làm việc nhanh hơn, thông minh hơn và an toàn hơn. Và ở đây, chúng ta sẽ cho Windows một liều Viagra bằng cách đột phá vào cái kho khổng lồ chứa các thiết đặt của hệ điều hành. Đó là Registry.

Xin lưu ý nhé: bất cứ mọi sự chỉnh sửa nào ở Registry đều phải được tiến hành một cách cực kỳ cẩn trọng. Những thay đổi không cẩn thận có thể làm cho Windows quờ quạng hoặc thậm chí khiến bạn không còn vào được Windows nữa. Các chuyên gia khuyến cáo: Trước khi **ng chạm bất cứ thứ gì của Registry, bạn phải sao lưu các thiết đặt Registry hiện hành của mình.

Có hai cách sao lưu Registry cơ bản.

1. Dùng chức năng System Restore. Trước khi thực hiện bất cứ một sự thay đổi nào lớn về phần mềm hay phần cứng, bạn nên chạy System Restore để Windows sao lưu tất cả các dữ liệu (kể cả Registry). Click Start ® All Programs ® Accessories ® System Tools ® System Restore.

Trên màn hình System Store, bạn chọn Create a restore point, click Next.

Và đặt tên cho điểm muốn sao lưu (thí dụ Before editing Registry).

Sau này muốn khôi phục lại cấu hình cũ thì cũng chạy System Restore và chọn Restore my computer to an earlier time.

2. Dùng Registry Editor. Click Start ® Run, gõ regedit vào box và nhấn Enter để mở cửa sổ Registry Editor. Click chuột lên mục My Computer để sao lưu Registry của toàn hệ thống (nếu một chọn nhánh nào đó, thí dụ như HKEY_CURRENT_USER, bạn sẽ chỉ sao lưu nội dung của nhánh đó mà thôi).

Mở menu File, chọn Export.

Trong cửa sổ Export Registry File, bạn đặt tên file sao lưu (có đuôi là .reg) và chọn thư mục lưu nó (tốt nhất là lưu trên đĩa CD-RW hay ổ đĩa flashdrive).

Sau này, nếu lỡ Registry đã bị sửa từa lưa hết cục cựa được, bạn chỉ việc gọi Registry Editor, chọn File ® Import để nhập file sao lưu Registry vào.

——————————————————————————

Chắc cái bụng rồi thì bây giờ bạn bắt đầu “voọc” cái “trái cấm” Registry nhé. Cách mở Registry Editor (trình biên tập Registry) là click Start ® Run, gõ regedit vào box và nhấn Enter.

1. Tăng tốc cho menu Start

Đây là một mẹo “tweak” cái Registry rất đơn giản nhưng có thể giúp tăng tốc mở menu Start và các menu phụ của nó.

Mở Registry Editor, chọn mục HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop. Click đúp chuột lên icon MenuShowDelay ở cánh bên phải. Trên hộp thoại Edit String, thay ‘Value data’ từ giá trị mặc định 400 (milliseconds) bằng giá trị nhỏ hơn (tức nhanh hơn), thí dụ là 0. Ngược lại, nếu thấy menu Start xuất hiện quá nhanh đối với mình, bạn có thể chỉnh cho nó mở chậm lại, có thể tới 4000 (tức 4 giây). Xong xuôi, nhấn Enter.

2. Đóng các ứng dụng nhanh hơn

Vội đi đâu đó, bạn phải bye Windows ngay thôi. Nhưng khi thoát một chương trình hay đóng Windows, bạn phải chờ nóng cả ruột để các ứng dụng nào đó đóng lại thì mới có thể shut down được. Sau một lúc chờ đợi mấy gã ứng dụng thoát ra, Windows cũng phát nóng ruột bèn tung ra cái hộp thoại End Program để bạn có thể buộc các ứng dụng kia phải đóng ngay lại.

Bạn có thể giảm thời gian chờ đợi các ứng dụng đang chạy đóng lại bằng mẹo mở Registry Editor, chọn HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop, sau đó click đúp lên icon của hai mục bên cánh phải:

1. HungAppTimeout, thay giá trị “Value data” từ mặc định là 5000 (milliseconds) xuống còn chừng 3000 (tức 3 giây) hay 2500.

2. WaitToKillAppTimeout, thay giá trị “Value data” từ mặc định là 20000 (20 giây) bằng giá trị thời gian mà bạn có thể chờ được (1000ms có nghĩa là 1 giây đó bạn nhé).

Nhấn Enter.

Nhưng không phải chỉ có các ứng dụng đang chạy mới làm quá trình shut down Windows trở nên chậm chạp đâu nhé. Nhiều quá trình xử lý của Windows XP (gọi là services) đang chạy cũng làm tăng thời gian chờ đợi shut down. Bạn có thể giảm thời gian đóng của các dịch vụ Windows này bằng cách mở Registry Editor, chọn HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contro l, click đúp lên icon WaitToKillServiceTimeout bên cánh phải. Thay đổi giá trị mặc định của ‘Value data’ từ 20000 (20 giây) bằng thời gian mà bạn cho phép các dịch vụ đóng. Thí dụ 5000 (5 giây). Nhấn Enter. Xin lưu ý: Có một số dịch vụ sẽ tự động tăng thời gian chờ của mình lên mức cần thiết đủ để có thể dọn dẹp tác vụ của mình trước khi đóng.

Xin rỉ tai một bí mật: Bạn có thể buộc Windows phải tự động đóng các ứng dụng đang treo mà không cần phải làm phiền bạn với cái hộp thoại End Program nữa. Bạn mở Registry Editor, chọn HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop. Click đúp lên icon AutoEndTasks ở cánh phải và thay đổi ‘Value data’ từ 0 thành 1. Nhấn Enter. (Để khôi phục lại chức năng hộp thoại End Program mặc định của Windows, bạn chỉ cần nhập lại giá trị mặc định của AutoEndTasks là 0.) Tuy nhiên, bạn bè cũng xin nói thật với nhau: Việc chọn cho phép các vụ tự động tắt không cần Windows thông báo như thế có thể gây tổn hại cho các thiết đặt hệ thống do buộc các ứng dụng phải quýnh quáng đóng quá nhanh, không kịp thực hiện các bước chuẩn bị và dọn dẹp các tàn tích do chúng tạo ra trong quá trình chạy. Cách dung hòa là bạn vẫn cho Windows thông báo End Program, nhưng giảm thời gian chờ đóng của các ứng dụng đang chạy như vừa trình bày.

3. Thay đổi kích thước wallpaper

Bình thường thì các hình nền wallpaper được thiết kế cho vừa với độ phân giải của màn hình. Nếu ảnh lỡ nhỏ hơn một chút thì bạn vẫn có thể dùng tùy chọn Stretch trong Properties ® Desktop ® Position để kéo nó ra cho phủ hết màn hình desktop.

Nhưng cũng có khi bạn muốn đưa lên desktop một hình khá nhỏ hay đơn giản là muốn cái desktop của mình hơi bị lạ mắt, như cho wallpaper nằm ép về một bên nào đó.

Bạn mở Registry Editor, chọn HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop và xem ở bên cánh phải đã có các key WallpaperOriginX và WallpaperOriginY chưa? Nếu chưa có, bạn phải tự tạo chúng thôi.

—————————————————————————–

–>Tham khảo: Cách tạo key mới :
TẠO STRING:

Click chuột phải lên một khoảng trống bên cánh phải cửa số Registry Editor. Chọn New ® String Value

Gõ tên key muốn tạo vào vị trí mới tạo ra (tức phải đổi cái tên mặc định New Value #1 của nó thành tên bạn muốn đặt). Bạn chú ý là các tên key phải viết dính liền nhau.

Nếu như lỡ tay nhấn chuột khiến cái tên mặc định trở thành tên chính thức, không gõ tên mới vào được, bạn click chuột phải lên key đó và chọn Rename thì sẽ gõ được tên mới vào ngay thôi.

Để gán giá trị cho key mới (hay bất cứ key nào đang có), bạn click chuột phải lên tên key đó, chọn Modify.

Gõ giá trị vào box. Nhấn OK là xong.

TẠO DWORD:

Click chuột phải lên một khoảng trống bên cánh phải cửa số Registry Editor. Chọn New ® DWORD Value

Gõ tên key muốn tạo vào vị trí mới tạo ra (tức phải đổi cái tên mặc định New Value #1 của nó thành tên bạn muốn đặt). Bạn chú ý là các tên key phải viết dính liền nhau.

Nếu như lỡ tay nhấn chuột khiến cái tên mặc định trở thành tên chính thức, không gõ tên mới vào được, bạn click chuột phải lên key đó và chọn Rename thì sẽ gõ được tên mới vào ngay thôi.

Để gán giá trị cho key mới (hay bất cứ key nào đang có), bạn click chuột phải lên tên key đó, chọn Modify.

Gõ giá trị vào box Value data của hộp thoại Edit DWORD Value. Chú ý ở phần Base là hai hệ số: Hexadecimal (hệ thập lục phân, hệ đếm 16) và Decimal (hệ thập phân). Nhấn OK là xong.

—————————————————————–
Tiếp tục nhé :

Click chuột phải lên một khoảng trống bên cánh phải, chọn New ® String Value và gõ tên key vào. Nhấn Enter. Key WallpaperOriginX để xác định vị trí cạnh trái (giá trị dương) hay cạnh phải (giá trị âm -) của wallpaper trên desktop. Còn key WallpaperOriginY để xác định vị trí cạnh trên (giá trị dương) hay cạnh dưới (giá trị âm -) của wallpaper. Để thay đổi vị trí của wallpaper, bạn phải thay đổi giá trị (tính bằng pixel) của key tương ứng, bằng cách click đúp lên icon của key và thay đổi giá trị “Value data” của nó. Giá trị này tương ứng với khoảng cách từ mép ảnh ra tới cạnh màn hình. Chẳng hạn, nếu muốn wallpaper nằm dạt về bên phải màn hình, ở key X, bạn nhập giá trị dương (thí dụ: 200), còn ở bên trái thì dùng giá trị âm (-200). Tương tự, ở key Y, giá trị dương đẩy ảnh dạt về phía dưới màn hình và âm đẩy lên phía trên.

Để test hiệu ứng này, bạn thu nhỏ cửa sổ Registry Editor (cũng như tất cả các cửa sổ đang mở), click chuột phải lên màn hình desktop, chọn Properties. Mở tab Desktop trên bộ hộp thoại Display Properties, bấm vào một tùy chọn nào đó ở mục Position và nhấn Apply hay OK. Nếu chưa vừa ý thì quành trở vào Registry Editor mà thay đổi giá trị của WallpaperOriginX và WallpaperOriginY.

4. Tìm mọi loại file

Khi bạn tìm kiếm một file nào đó trong Windows (bằng cách chọn Start ® Search ® For Files or Folders hay nhấn phím [F3] trong bất cứ cửa sổ Explorer hay folder nào để mở cửa sổ tìm kiếm), Windows chỉ tìm kiếm các định dạng file mà nó công nhận. Các định dạng file không được liệt kê trong bản danh sách ‘Registered file types’ sẽ bị Windows “gặp nhau làm ngơ”. (Để xem cái bản Phong Thần này, bạn chọn Tools ® Folder Options và mở tab File Types.)

Có một mẹo Registry có thể bắt Windows phải ngoan ngoãn tìm kiếm bất cứ file nào bạn cần mà không thèm quan tâm tới định dạng của nó.

Bạn mở Registry Editor, chọn mục HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contro l\ContentIndex. Click đúp lên icon FilterFilesWithUnknownExtensions bên cánh phải, thay đổi giá trị mặc định 0 trong ‘Value data’ thành 1, và nhấn Enter.

Để chắc cú hơn nữa, bảo đảm cho Windows không cứng đầu cứng cổ bất tuân thượng lệnh của mình, bạn mở cửa sổ Search lên, chọn All Files and Folders, kéo thanh trượt xuống để đánh dấu chọn vào các mục Search system folders, Search hidden files and folders, và Search subfolders. (Nếu không thấy các mục này, bạn nhấn vào mục More advanced options).

Sau đó, bạn mở một cửa sổ nào đó của Windows (như My Computer, Windows Explorer), nhấn lên menu Tools ® Folder Options, mở tab View, chọn Show hidden files and folders, và bỏ chọn Hide protected operating system files (Recommended). Khi có hộp thoại cảnh báo nguy hiểm, bạn cứ việc nhấn Yes. Xong thì nhấn OK.

5. Lộ mặt account Administrator

Theo mặc định, account “Administrator” của Windows XP được giấu, trừ khi máy bạn không có thiết đặt một account nào khác hay khi boot ở chế độ Safe Mode. Nếu muốn cho account “Administrator” lộ mặt trên màn hình Welcome của Windows, bạn có thể dùng mẹo Registry.

Mở Registry Editor, chọn mục HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\Winlogon\SpecialAccounts\UserLis t. Click đúp lên icon Administrator trên cánh phải và thay đổi giá trị của nó trong “Value data” từ 0 thành 1.

Nếu không thấy có icon này, bạn phải tạo nó thôi. Bạn click chuột phải lên một khoảng trống ở cánh phải, chọn New ® DWORD Value và đặt tên cho nó là Administrator, nhấn Enter. Xem cách tạo key ở trên .
Từ nay trở đi, mỗi khi bạn mở cửa sổ User Accounts thông qua Control Panel (hay mở Start ­® Run và gõ từ khóa Control userpasswords rồi Enter), bạn sẽ nhìn thấy tên account Administrator. bạn có thể dễ dàng thay đổi hình đại diện của nó hay đặt password cho nó. Rồi mỗi khi khởi động Windows, bạn cũng sẽ thấy cái account Administrator chường mặt ra trên màn hình Welcome bên cạnh tất cả các account khác.

6. Mở nhanh tới các key trong Registry

Có những key trong Registry của Windows XP mà bạn phải thường xuyên lui tới để kiểm tra và hiệu chỉnh. Thí dụ cái key HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curre ntVersion\Explore\MenuOder\ dùng để xếp các danh sách ứng dụng hay link lại theo trật tự ABC (delete cái key Order). Nhưng nếu mỗi lần muốn **ng tới chúng, bạn phải mở cửa sổ Registry Editor rồi bấm chuột mở hàng loạt cây thư mục thấy mà muốn hoa cả mắt.

Mẹo xử cái vụ này là khai thác cái menu Favorites của Registry Editor. Chọn trong cánh trái của cửa sổ cái key mà mình hay phải xài thường xuyên, nhấn lên menu Favorites, chọn Add to Favorites, chọn OK trên hộp thoại Add to Favorites.

Thế là từ nay, mỗi khi muốn xử cái key này, bạn chỉ việc mở menu Favorites của Registry Editor, bấm vào tên key là nó đưa bạn tót ngay tới vị trí key đó.

7. Thay tên đổi họ cho Internet Explorer

Mặc định, thanh tiêu đều (title bar) của trình duệt Web Internet Explorer hiển thị tên của trang Web mà bạn đang xem, tiếp theo là chữ “Microsoft Internet Explorer”. Trong một số trường hợp, trên thanh đó có tên công ty bạn hay tên của ISP cung cấp trình duyệt Web đó.

Bạn có thể thay đổi các chữ xuất hiện trên thanh tiêu đề này (sao không thay bằng tên bạn cho nó oách hén) bằng cách mở Registry Editor. Chọn HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main, click đúp lên icon Window Title và gõ vào đó những chữ gì mình muốn hiển thị. Nếu không thấy có key này, bạn tạo nó bằng cách click chuột phải lên khoảng trống ở cánh phải, chọn New ® String Value và gõ tên vào tên key Window Title. (Tham khảo: Cách tạo key mới)

Nếu không nhập chữ gì vào giá trị của key Window Title thì sau này trên thanh tiêu đề IE sẽ chỉ còn tên trang Web mà mất đi cái dòng “Microsoft Internet Explorer”. Nếu muốn khôi phục lại tên cúng cơm cho “Microsoft Internet Explorer”, bạn phải delete cái key này.
Trước…

và sau khi sửa Registry.

8. Hiệu chỉnh dung lượng đĩa cho System Restore

Nếu Windows XP của bạn có bật chức năng khôi phục hệ thống System Restore, cái mẹo Registry này có lẽ hữu ích à nghen.

Để thiết đặt dung lượng dành cho System Restore, bạn vào Control Panel mở System, mở tab System Restore. Nhấn Setting và kéo thanh trượt để xác định dung lượng đĩa dành cho chức năng này. Mặc định là Max (12% dung lượng ổ đĩa mà bạn dành để chứa các dữ liệu của System Restore). Nhưng thực tế là Windows không tự động sử dụng dung lượng đĩa này mà tuân thủ theo mức mặc định trong Registry. Khi dung lượng đĩa trống còn quá ít hay khi dung lượng dữ liệu lưu trữ vượt quá mức quy định, nó sẽ đình công.

Vì thế, bạn có thể chỉnh sửa lại các giá trị của System Restore trong Resgistry. Mở Registry Editor, chọn HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\ Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\SystemRestore. Bạn xem bên cánh phải có 3 key xác định dung lượng ổ đĩa cho System Restore.

Đó là DiskPercent (tỷ lệ đĩa cứng thiết đặt trong Setting); DSMax (dung lượng đĩa mặc định tối đa mà Registry cho phép System Restore sử dụng, tính bằng MB, giá trị chung là 400); và DSMin (dung lượng đĩa mặc định tối thiểu, giá trị chung là 200MB). Bạn thấy là dung lượng DSMax mặc định rất thấp so với thực tế mà bạn muốn dành cho nó. Hãy click đúp chuột lên icon DSMax, chọn hệ số thập phân Decimal và thay giá trị trong “Value data” từ 400 tới con số mà bạn muốn. Còn ở DSMin, để tránh tình trạng System Restore “bỏ việc” khi thấy dung lượng đĩa trống còn 200MB, bạn click đúp chuột lên key này vào thay giá trị Decimal còn 100 (tức 100MB).

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: